Uống nóng
Khi ăn cho thêm ít hạt tiêu. Để làm thuốc dùng toàn cây rau mùi (tươi hay phơi khô). Cam thảo đất 6g. Glucid. Gừng tươi 3 lát đập giập. Cỏ sữa lá nhỏ 10g. Lá mọc sát đất thành hình hoa thị ở gốc. 30g thịt bò băm nhỏ. Uống nóng. Ngải cứu và cúc tần mỗi thứ 20g. Phơi khô. Có nhiều răng cưa và gai sắc hơn.
Toàn cây có tinh dầu. Rửa sạch. Sau khoảng 5 - 6 ngày. Cỏ mần trầu. Thon hẹp lại ở gốc. Rau mùi tàu có vị cay hơi đắng. Quờ cho vào ấm sắc với 500ml nước. Thái nhỏ. Giúp tiêu hóa tốt. Đến khi còn 200ml chia làm 2 lần. Thu hái quanh năm.
Bài 5: Chữa đái dầm ở trẻ nhỏ: Lấy mùi tàu. Thuôn. Nằm trong chăn ấm để cho ra mồ hôi. Thái khúc. Cho thêm vài hạt muối. Tính ấm. Dùng liền 3 ngày. Có thể nhắc lại liệu trình mới. Calcium. Hoa màu trắng lục. Mỗi ngày 2 lần.
Vài lát gừng tươi. Rửa sạch đổ vào ấm với 300ml nước. Nhỏ dần. Có vẩy. Cho Tất cả vào nồi đổ 500ml nước sắc còn 150ml. Rau mùi tàu là gia vị thơm ngon. Kiệm tỳ. Bụng ì ạch do ăn nhiều đạm: Rau mùi 50g.
Khuấy tan. Bài 4: Chữa đầy hơi. Rửa sạch. Có phiến mỏng. Vitamin B1 và vitamin C. Hình mũi mác. Tuốt luốt rửa sạch sắc với 500ml nước.
Đun sôi trong khoảng 15 phút. Thơm. Mỗi thứ 20g. Theo y học cổ truyền. Mọc thành tán. Rau mùi tàu chứa nhiều protid. Thái nhỏ. Thầy thuốc Nguyễn Thúy Anh. Món này ăn nóng. Nên có mùi thơm. Phosphor. Sắt. Có tác dụng sơ mỏng manh nhiệt. Cây mọc hoang và trồng bằng hạt nơi ẩm ướt. Để bài thuốc phù hợp với thể trạng của từng người mới có hiệu quả thì người bệnh cần được bắt mạch kê đơn ở cơ sở y tế có uy tín.
Sau khi uống. Hoặc có thể lấy 20g rau mùi tàu rửa sạch. Dùng khoảng 5 - 10 ngày. Rồi chia làm 3 lần. Mép có răng cưa. Quả hình cầu. Dùng để ngậm và súc miệng nhiều lần trong ngày. Mỗi lần dùng cách nhau 3 tiếng. Giảm đau. Hơi có gai. Lá ở thân càng lên càng ngắn.
Bài 3: Chữa hôi miệng: Lấy 1 nắm rau mùi tàu. Cellulose. Bài 2: Chữa cảm mạo: Mùi tàu khô 10g. Gừng tươi 3 lát. Hành khí tiêu thũng. Đến khi còn 100ml thì đổ ra. Uống sau bữa ăn tối. Miệng sẽ bớt mùi hôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét