Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

Tại sao thế giới sẽ khó được chia sẻ bình phục từ khủng hoảng ngân hàng hơn?.

Các nhân tố dẫn đến “Nhật Bản hóa” “Nhật Bản hóa” đại diện cho một thời kỳ suy thoái sâu và kéo dài nối tiếp sự sụp đổ của bong bóng tài sản

Tại sao thế giới sẽ khó phục hồi từ khủng hoảng ngân hàng hơn?

Đây là tỷ lệ khá cao so với nhóm nước trong OECD, và cao hơn nhiều so với những nước mới nổi của châu Á có thu nhập bình quân theo đầu người thấp hơn nhiều. So sánh với những nước trải qua khủng hoảng ngân hàng thập niên 1990 ADB đã lấy lệ so sánh những trải nghiệm của Nhật Bản với một đôi quốc gia xảy ra khủng hoảng nhà băng vào thập niên 1990.

ADB cho rằng các phản ứng chưa thỏa đáng của nhà băng Trung ương Nhật Bản và các nhà chuyên trách là nguyên tố mấu chốt. Đóng góp phát triển từ tổng lượng vốn cũng thấp hơn so với Nhật Bản. Về mặt têu cực, lạm phát CPI thấp và giảm đầu tư ròng sau thời kỳ khủng hoảng tài chính dấy lên nguy cơ “Nhật bản hóa”.

Thiếu sự cần kíp khi đưa ra chính sách, thêm vào là tổng tiền hà tiện trong nước lớn cũng như dự trữ ngoại hối và gói kích thích tài chính lớn là một lỗi nghiêm trọng. Thứ ba, tỷ lệ tín dụng nội địa so với GDP cao hơn trong phép so sánh với các nước trong OECD, và cao hơn mức thường ngày của các nền kinh tế mới nổi, nhưng đã giảm xuống thất thường vào những năm 2000.

Phương pháp phân tích có một số cải tiến: dựa trên đầu tư ròng thay vì tổng đầu tư, các thông số bình phương trình diễn tỉ lệ lạm phát CPI và thành phần dân số già. Song, một khi bong bóng được cường điệu lên và sau đó nổ thì chính sách tốt thứ hai là mau chóng giảm thiểu nhanh ảnh hưởng tiêu cực của sự sụp đổ như vậy vào ngành ngân hàng và quờ quạng hoạt động kinh tế phê duyệt chính sách điều tiêt tiền tệ.

Phản ứng chậm đối với các vấn đề ở khu vực nhà băng trong eurozone cũng là điểm mấu chốt dẫn đến suy thoái dài hạn. Một nghiên cứu mới đây của ADB cho hay: Khả năng bình phục kinh tế từ những cuộc khủng hoảng ngân hàng có thể kém hơn và mất thời kì hơn so với bình phục từ những đợt suy thoái sâu truyền thống. Đặc biệt, tỷ lệ lạm phát CPI (hoặc giảm phát) và đầu tư ròng (hoặc đóng góp tăng trưởng vốn) rất thấp phối hợp với bản tính nền kinh tế đóng cửa và tình trạng dân số già, là duyên do đốn cho sự giảm tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản.

Một yếu tố nữa là giá bất động sản, cổ phiếu giảm đáng kể nhưng hàng hóa giảm giá vừa phải nhưng liên tiếp và GDP danh nghĩa không tăng. Kết quả cho thấy tổng vốn, tỷ lệ lạm phát CPI, mở cửa kinh tế được đo bởi số tiền đầu tư FDI chảy vào trong nước như tỷ lệ GDP, và tỷ trọng dân số già (65 tuổi trở lên) trên tổng dân số là những yếu tố quyết định của tăng trưởng GDP thực tiễn theo đầu người.

Dân số già có thể là một yếu tố bị động cho sự phát triển của các nền kinh tế phát triển, đơn cử như Đức và Ý, nhưng không tác động đáng kể đến Anh và Mỹ. Quá trình “Nhật Bản hóa” càng trầm trọng hơn bởi tốc độ già hóa dân số nhanh.

Giải pháp tốt nhất đầu tiên để tránh được các kiểu kinh tế bê trễ mà Nhật đã qua đó là ngăn chặn hiện tượng bong bóng bằng cách hâm nóng kinh tế, tăng trưởng tín dụng, đầu tư quá nhiều vào các tài sản một mực và đầu cơ thị trường tài sản. Nhà băng phát triển châu Á công bố nghiên cứu về các đặc tính của “Nhật Bản hóa” và các nhân tố khã dĩ gây ra nguy cơ này.

Thứ hai , đóng góp của tăng trưởng tổng vốn cho tăng trưởng GDP thực tiễn khá lớn so với nhóm nước OECD vào thập niên 1990, tuy nhiên lại suy giảm xuống mức rất thấp vào năm 2000. Thứ tư , giá nhà làng nhàng đã giảm suốt hai thập kỷ 1990 và 2000. Trong phép so sánh này, diễn đạt kinh tế của Nhật nổi bật hơn ở một số điểm

Tại sao thế giới sẽ khó phục hồi từ khủng hoảng ngân hàng hơn?

Nguồn Economywatch/Dân Việt. Từ đó dẫn đến khủng hoảng nhà băng trên quy mô lớn. Từ đó cho thấy nguồn cội của hiện tượng “Nhật Bản hóa” có một phần duyên cớ bởi mô hình tăng trưởng đầu tư do khu vực nhà băng cấp vốn. Bởi ở đây các nhà chức trách được mặc định đã có đủ công cụ chính sách để đẩy lùi khủng hoảng ngân hàng và giải quyết các vấn đề kinh tế.

Dù rằng chính sách nâng giá đồng yên vào giữa thập niên 1990 có thể đã gây tác động thụ động đến tăng trưởng, các phân tách quy hồi đã không tìm thấy những tác động bị động của tỷ giá hối đoái cho sự phát triển.

Song song, ADB làm các phép so sánh với những sơn hà khác đã từng qua khủng hoảng nhà băng trong thập niên 1990, tiến hành phân tích các thuộc toán kinh tế của các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăn trưởng dài hạn, cũng như đưa ra các lời khuyên để các nước có nguy cơ cao có thể tránh bị “Nhật Bản hóa”. Nguy cơ “Nhật Bản hóa” và biện pháp phòng tránh Vấn đề đặt ra là liệu Mỹ và một số nền kinh tế khu vực eurozone vừa sang khủng hoảng tài chính (đặc biệt lĩnh vực nhà băng) quy mô lớn sẽ đối mặt với rủi ro trì tệ kinh tế dài hạn ra sao? Về mặt hăng hái, trường hợp khủng hoảng của Mỹ, Anh và Ý chứng tỏ tỷ lệ tăng trưởng GDP trung bình theo đầu người trước khủng hoảng toàn cầu thấp hơn Nhật Bản, nghiêng ngả từ 1,2% ở Ý tới 2,5% ở Anh.

Suy thoái kinh tế hàm chứa hệ quả giảm thiên hướng tăng trưởng GDP, tăng chậm hoặc không tăng tỷ lệ tổng vốn so với GDP, suy giảm tỷ lệ lãi suất ngắn và dài hạn, và tăng đáng kể tỷ lệ nợ công so với GDP.

“Hai thập kỷ mất mát” của Nhật Bản là minh chứng rất điển hình cho nhận định trên, và kinh nghiệm đó đã được tóm gọn và chuyển hóa thành những thuật ngữ như “suy thoái kiểu Nhật” hay “Nhật Bản hóa”. Kinh nghiệm của Nhật Bản năm thập niên 1990 cho thấy thậm chí những nền kinh tế phát triển, vốn có những công cụ chính sách quan trọng để không sảy chân rơi vào khủng hoảng nhà băng, cũng có thể phải vật lộn để tránh suy thoái dài.

Phân tích thuộc toán kinh tế Các phân tách thuộc toán kinh tế của ADB nhằm mục đích nhận dạng các nhân tố quyết định của tăng trưởng GDP thực tại theo đầu người. Từ triển vọng này, các chính sách kinh tế vĩ mô và cẩn trọng vĩ mô (marcoprudential) có thể ngăn chặn bong bóng giá tài sản. Một thời kỳ suy thoái kinh tế dài trong thời điểm không chiến tranh là sự kiện không mới, đặc biệt ở những nước đang phát triển; “thập kỷ mất mát” của châu Mỹ Latinh vào thập niên 1980 chỉ là một tỉ dụ.

Có thể nói trải nghiệm của Nhật Bản hao hao các quốc gia châu Á bị ảnh hưởng trực tiếp bởi khủng hoảng tài chính: Indonesia, Hàn quốc, Malaysia,và Thái Lan. Mức tín dụng nội địa cao tương quan với GDP trong giai đoạn tiền khủng hoảng làm tăng thêm nguy cơ.

Đặc biệt, đóng góp từ tổng vốn giảm mạnh vào những năm 2000 ở Nhật hay các nước châu Á khác, thể hiện rõ ở vốn ròng thấp hơn, trái ngược với các nước trong OECD hay các nước Mỹ La tinh. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khả năng phục hồi kinh tế ở các quốc gia châu Âu và Mỹ đã chậm lại, dấy lên mối lo ngại về sự đình trệ lâu dài. Tuy nhiên “Nhật Bản hóa” là một hiện tượng gây ngạc nhiên được quan sát ở nền kinh tế thị trường đã chín mùi.

Một số yếu tố khác dẫn đến “Nhật Bản hóa” đó là phản ứng của các chính sách kinh tế vĩ mô chưa đầy đủ, tái cấu trúc ngành nhà băng bị bê trễ, mức đầu tư từ doanh nghiệp thấp, mất khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực công nghiệp, tốc độ tăng năng suất các nguyên tố tổng (TFP) chậm lại và dân số già.

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng bình quân GDP trên đầu người của Nhật trong những năm 1980 là 4%/năm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét